Hiển thị các bài đăng có nhãn Cà phê và Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cà phê và Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Quán cà phê lưu giữ ký ức Hà Nội xưa

Nằm trên căn gác nhỏ khó tìm lại không có biển hiệu, bao năm nay quán cà phê Đinh đã trở thành nơi thân thuộc với nhiều người yêu Hà Nội.

Quán Đinh mở vào những năm 1990, lúc nào cũng đông khách, chủ yếu là học sinh, sinh viên,
người yêu nghệ thuật và một thời là nơi hội tụ những người yêu nhạc rock.

Trước kia, quán có tên là cà phê Bích, tên của nữ chủ quán. Dần dần, người ta biết đến nó với cái
tên Đinh vì một lý do rất đơn giản: Quán nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng ngay sát hồ Hoàn Kiếm.

Quán ở trên gác hai của một ngôi nhà Pháp cổ hầu như vẫn còn nguyên kiến trúc ban đầu.
Chủ quán chỉ gia cố và sửa chữa lại những nơi đã quá cũ, không an toàn cho khách.

Đường lên quán khá lắt léo. Khách vào con ngõ nhỏ (bên ngoài bán túi xách)
nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, đi cầu thang lên gác hai là tới nơi.

Không cần ra phố, chỉ bước vào Đinh, khách cũng có thể cảm nhận được
đang ở mùa nào trong năm. Khách như được thưởng thức bốn mùa
Hà Nội bằng cả hương và sắc.

Hương cà phê trứng thơm ngậy, mùi chè sen ngọt mát, mùi hoa nhài thoang thoảng, mùi phố
phường qua ban công be bé, màu cánh cửa đã cũ, màu cà phê đen sánh, màu tường vôi vàng
ấm, màu đỏ của bếp lò ấm rực cả mùa đông.

Món tủ của quán là cà phê trứng vẫn được pha phin theo cách truyền thống.

Chủ quán là bà Bích đã mất nhưng hình ảnh bà đã trở thành một phần ký ức đẹp của quán, về
Hà Nội xưa, về những con người con gái Hà thành nền nã, khéo léo. Bố bà Bích là ông Giảng,
người chủ thương hiệu cà phê Giảng, từ thời Pháp thuộc.

Bức hình chụp bà Bích và gia đình ở quán cà phê Giảng từ thời Pháp, được treo trang trọng
trong quán.

Ảnh bà Bích thuở là cô gái nhỏ đeo nơ, được lưu giữ bao năm qua.

Góc ban công của quán (phải) nhìn từ đường Đinh Tiên Hoàng.

Từ ban công đó, khách có thể ngắm nhìn hồ Gươm, người qua lại ở con đường bên dưới.

Quán đông khách nhưng đôi lúc cũng bắt gặp đâu đấy chút lắng đọng. Hà Nội gió mùa trong
Đinh, Hà Nội tấp nập cũng ở trong Đinh, Hà Nội tĩnh lặng cũng hiện diện ở quán.

Phương Thảo
Ảnh: Vũ Minh Quân
(Theo VnExpress)

Những câu nói bất hủ của Nelson Mandela

Mandela và vợ Winnie hôm 19/2/1990 tay trong tay, giơ nắm đấm lên cao khi ông được thả khỏi nhà tù Victor ở Cape Town, Nam Phi. Ảnh: AP

"Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi sẽ vẫn ở trong tù" là một trong những câu nói nổi tiếng của cựu tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, biểu tượng của phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, qua đời ở tuổi 95 vào hôm thứ Năm, ngày 5/12/2013 vừa qua.

"Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen. Tôi yêu mến lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, trong đó mọi người dân sống với nhau hòa thuận, có những cơ hội bình đẳng. Đó là lý tưởng mà tôi hy vọng sẽ sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó", Mandela nói tại tòa án Rivonia năm 1964, khi ông đối mặt với một án tử hình vì âm mưu lật đổ chính quyền.

"Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi vẫn sẽ ở trong tù", Mandela nói sau khi được ra tù năm 1990.

"Những nhà lãnh đạo thực sự phải sẵn sàng hy sinh tất cả vì sự tự do của dân tộc họ".

"Không phải vua và tướng tạo ra lịch sử mà chính là đám đông quần chúng, những công nhân, nông dân, bác sĩ, luật sư".

"Nếu có bất cứ điều gì tôi nhận thức được, thì đó là không sợ thiểu số, đặc biệt là thiểu số da trắng. Chúng ta sẽ không sống như những con mèo béo", ông nói trước cuộc bầu cử tổng thống năm 1994.

"Chúng ta đạt được hiệp ước rằng chúng ta sẽ xây dựng một xã hội trong đó tất cả người Nam Phi, da màu lẫn da trắng, sẽ có thể bước ngẩng cao đầu, với trái tim không run sợ, được đảm bảo về quyền bất khả xâm phạm đối với nhân phẩm - một quốc gia cầu vồng hòa bình trong nội tại và trên thế giới", Mandela phát biểu trong lễ nhậm chức tổng thống.

"Tôi bước xuống với một nhận thức, một cảm giác rõ ràng rằng bằng một cách nhỏ nhoi, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ với dân tộc tôi và đất nước tôi", ông nói khi thôi làm tổng thống.

"Sự việc đều tưởng như bất khả thi cho tới khi nó được hoàn thành".

"Nghèo không phải là một tai ương. Giống nạn nô lệ và phân biệt chủng tộc, nó do con người tạo ra và có thể được xóa bỏ bằng hành động của nhân loại".

"Đừng đánh giá tôi dựa trên những thành công của tôi, hãy đánh giá tôi dựa trên số lần tôi gục ngã và đứng dậy trở lại".

"Điều nuối tiếc lớn nhất trong cuộc đời tôi là tôi chưa bao giờ trở thành vô địch giải đấm bốc hạng nặng thế giới".

Khi Đức thắng Nam Phi trong giải bóng đá World Cup 2006, Mandela nói: "Ít nhất chúng ta có quyền uống say... lần tới chúng ta sẽ thắng".

"Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc của ông ta, với đất nước của ông ta, ông ta có thể yên nghỉ. Tôi tin rằng tôi đã hoàn thành nỗ lực đó, và vì vậy, đó là lý do tôi sẽ ngủ yên trong vĩnh hằng", Mandela trả lời phỏng vấn trong bộ phim tài liệu "Mandela".

(Theo VnExpress)

Bạn có biết: 10 quốc gia uống nhiều cà phê nhất trên thế giới?

... và 10 quốc gia sản xuất và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới?


(Ảnh được tạo bởi I Love Coffee)

Cà phê, Napoleon và hòn đảo bí mật

Chúng ta đã biết sơ qua về lịch sử của và sự phát triển của cây cà phê cùng sức ảnh hưởng của nó đến các tầng lớp dân chúng. Xung quanh câu chuyện về cà phê còn có nhiều giai thoại liên quan đến các anh hùng, danh nhân… khá thú vị.


Một trong các nhân vật đem đến giai thoại về cà phê và Napoleon, người được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử cận đại tại châu Âu, người góp phần thay đổi cục diện thế giới.

Nói đến Napoleon, người ta thường nói nhiều đến các trận đánh oai hùng, các cuộc xâm chiếm mở mang bờ cõi bách chiến bách thắng, các lá thư tình đẫm yêu thương… Ít ai biết ông cũng có tình yêu mãnh liệt với cà phê, thứ nước uống mới được khám phá của thế giới vào thời gian đó, nhất là trong khoảng thời gian cuối đời khi ông bị giam cầm tại đảo St.Helena.

Hòn đảo bí mật

Saint Helena là một hòn đảo nhỏ lẻ loi nằm giữa Brazil và miền Tây Nam Châu Phi. Được người Bồ Đào Nha khám phá ra từ năm 1502, hòn đảo hoang vu này là một trong những nơi biệt lập nhất thế giới. Trong hơn 80 năm sau khi tìm ra hòn đảo này, người Bồ Đào Nha giữ bí mật này để dùng nó làm nơi tập dượt quân sự và củng cố đội thủy quân hùng mạnh của mình. Năm 1673, St.Helena bị Hà Lan chiếm đóng nhưng sau đó 4 tháng, Hà Lan lại thua trận Anh nên hòn đảo nhỏ này trở thành thuộc địa của Anh.

Ngày 15 tháng 10 năm 1815, Napoleon thua trận Waterloo và bị quân đội Anh bắt giữ. Anh quyết định dùng hòn đảo nhỏ biệt lập này để giam cầm kẻ tử tù quan trọng nhất thế giới. Napoleon được chở đến đảo và cầm tù tại Longwood cho đến ngày ông mất vào tháng 5 năm 1821. Trong khoảng thời gian giam cầm Napoleon, chính phủ Anh gia tăng lực lượng kiểm soát gắt gao tại đây với trùng điệp quân đội trên đảo và tàu bè đậu vòng quanh đảo.

Napoleon nghiện uống cà phê từ khi gặp người vợ đầu tiên của ông, Josephine. Từ năm 1795 , Josephine thường pha cho ông các cốc cà phê ngon tuyệt trồng từ khu đồn điền của gia đình bà tại Martinique. Gia đình bà có nuôi 150 nô lệ da đen làm việc tại đây và họ được đối xử rất tử tế, có lẽ vì sự ảnh hưởng này mà Napoleon đã ban hành luật chấm dứt nạn buôn no lệ tại Pháp năm 1802.


Những ngày cuối đời của Napoleon

Khi bị giam cầm tại St.Helena, Napoleon đã thốt lên câu nói còn được lưu truyền đến nay khiến hòn đảo nhỏ này trở nên nổi tiếng nhờ cà phê. Ông bảo “Điều thú vị duy nhất tại St.Helena này là cà phê”. Napoleon uống cà phê đều đặn mỗi ngày vào bữa điểm tâm lúc 6 giờ sáng, sau buổi trưa lúc 10 giờ và bữa chiều lúc 8 giờ cũng luôn kết thúc bằng tách cà phê thơm ngào ngạt rót ra từ bình làm bằng bạc mà ông ưa thích nhất.

Năm 1820, Napoleon đột nhiên yêu thích công việc trồng trọt và tự tay ông trông, tự tay ông chăm sóc các cây cà phê tại đây. Ông cảm thấy thật an bình và yên tĩnh nên mong muốn được chôn cất tại đây. Thung lũng trồng cà phê tại đảo này cũng là nơi nguyên thủy an tang Napoleon (sau này thi thể ông được đươc về nguyên quán Paris).

Sau này, người ta đã khai quật được nhiều di vật tại đây của Naponeon như các bộ ly tách dùng để uống trà và cà phê mạ vàng xinh đẹp được làm riêng cho ông, các chai rượu hay hòn đá xinh đẹp dùng để trang trí mộ của ông. Các di vật này được mang về và trưng bày tại bảo tang viện Lourve tại Paris.

… Và cà phê tại đảo St.Helena

Trong sử sách có ghi vào giây phút cuối đời, Napoleon tha thiết yêu cầu được bác sĩ cho uống dù chỉ một muỗng cà phê. Vị bác sĩ này từ chối nhiều lần nhưng Napoleon vẫn kiên nhẫn van xin. Có ý kiến cho rằng đó là do Napoleon mong muốn cà phê có thể giúp chữa lành bệnh cho mình, nhưng mọi người đều tin rằng với tình yêu cà phê thật mãnh liệt, vị vua lừng lẫy một thời này phút cuối đời chỉ muốn thưởng thức lại hương vị thơm ngon của loại nước uống này mà thôi.

Vào tháng 2 năm 1733, hạt cà phê thuần chủng giống Arabica mang tên Green Tipped Bourbon Arabica mang lên trồng tại đảo St.Helena và đến nay, cà phê trồng tại đây được các người sành điệu khen ngợi là một trong các loại cà phê ngon nhất thế giới bởi loại cà phê này rất đặc biệt và chất lượng thật hảo hạng.

Loại Geen Tipped Bourbon Arabica này có hương vị thơm ngào ngạt, lại rất khó trồng, đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt khi gieo trồng cũng như khi rang lên mới bảo đảm được hương vị đặc biệt của nó. Hòn đảo nhỏ gần như xa xôi tận cùng nhất của trái đất, khí hậu trong lành và thổ nhưỡng điều hòa ấm áp lại là nơi thích hợp cho giống cà phê phát triển. Hơn nữa, vốn là hòn đảo hình thành từ núi lửa xa xưa, đất tròng tại đây với lớp tro giàu khoáng chất, thêm nguồn phân xanh tự nhiên dồi dào từ các loài chim trên đảo và nguồn nước tưới trong lành từ các mạch nước ngầm, cây cà phê tại đây thật tươi tốt và hạt cà phê có hương vị thật đặc biệt.

Với sản lượng rất giới hạn do diện tích đảo St.Helena khá nhỏ, cà phê hiện Napoleon’s Valley Estate luôn là nhãn hiệu cà phê được giới sành điệu săn lùng nhiều nhất trên thế giới.

(Theo 24h)

Khí quyển văn hóa cà phê Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ có địa thế chính trị là nơi giao lưu của cả châu Á, châu Âu và châu Phi. Về văn minh tâm linh, sự dị biệt giữa ba truyền thống độc thần giáo cùng xuất phát từ Abraham là đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Islam khiến có những sự đụng độ và tranh chấp đến nay vẫn còn tiếp diễn. Tuy nhiên, về mặt văn minh vật thể, người Turki đã đóng góp cho châu Âu và ngày nay là cả thế giới hai món quà phổ thông: đó là tắm hơi nóng (Turkish bath) và cà phê (Turkish coffee).

Ảnh minh hoa: Kuzeytac

Cà phê lan truyền âm thầm từ thế kỷ 16 và thực sự xâm chiếm châu Âu ồ ạt từ sau thế kỷ 17. Lịch sử cho biết năm 1555 có hai người lái buôn Syria đầu tiên mang cà phê tới bán ở thủ đô của Turki là Istanbul như “sữa cho những người chơi cờ và những người suy tư”. Đến giữa thế kỷ 17, cà phê đã xâm nhập vào triều đình đế quốc Ottoman với những viên quan phụ trách cà phê có đến hơn 40 người phụ tá pha chế và dọn hầu cho hoàng đế và các cận thần.

Với giới cấm tuyệt đối của kinh Qur’an (còn gọi là Koran) về các thức uống có nồng độ của rượu cồn, cà phê trở thành thức uống được ưa chuộng của toàn xã hội.

Ở Turki, các tập tục về hôn nhân và giới tính cũng được quy định qua nghi thức về cà phê. Phụ nữ được huấn luyện kỹ lưỡng trong hậu cung và trong từng gia đình về việc pha chế này. Những người chồng tương lai cũng xét phẩm chất một phụ nữ qua kỹ năng và thị hiếu khi dọn mời cà phê chẳng khác nào xã hội Á Đông xét việc pha trà và têm trầu. Cà phê đã trở thành sự giao lưu và tương tác xã hội hàng đầu, kể cả nhu cầu về đãi khách, cầu nguyện, tĩnh tâm tại gia. Thậm chí cho đến ngày nay, việc cưới hỏi cũng được định đoạt qua sự chiêu đãi cà phê chính thức.

Đối với nam và nữ, cà phê là phương tiện giao tiếp xã hội và sinh hoạt chủ yếu. Sự khác nhau là nam giới gặp nhau tại các quán cà phê công cộng, trong khi phái nữ kết thân qua sự chiêu đãi tại nhà.

Từ thế kỷ 20, với những quan niệm cởi mở về sự bình quyền nam nữ và dân chủ trong xã hội, các quán cà phê là nơi bạn bè và các gia đình có thể sinh hoạt tự do.

Chủ yếu sử dụng loại cà phê Arabica, người Turki sử dụng ấm pha cà phê nhỏ gọi là cezve đáy lớn và phía trên nắp hẹp lại. Vật liệu là hạt cà phê được rang kỹ và nghiền thật nhuyễn như bột. Thông thường ấm được làm bằng đồng để dẫn nhiệt cho tốt và có tay cầm bằng gỗ cho khỏi nóng - ngày nay cũng sử dụng các ấm sắt hoặc nhôm có tráng một lớp men chống dính. Thìa hay muỗng được dùng để đong lượng cà phê và đường, phần lõm trung bình dài 1 cm và rộng 0,5 cm.

Nhiệt được để thấp cho cà phê không bị quá mau sôi và có đủ thời gian chiết xuất hương vị và bọt, dùng than hồng hoặc một chiếc khay nhỏ chứa cát và đặt trên bếp. Khi cát đủ độ nóng, ấm cà phê được đặt lên cát để sự truyền nhiệt đều và dịu hơn lửa trực tiếp.

Cà phê Turki (Turkish coffee) chỉ phong cách pha chế hơn là chủng loại của cà phê. Đúng cách nhất là hạt cà phê chỉ được rang ngay trước khi pha chế. Bột nghiền thật nhuyễn này được ngâm trong nước lạnh, đo lường kỹ lưỡng, đun nóng nhưng không sôi và đủ lâu để các a xít béo và các hợp chất đặc thù được bảo tồn trọn vẹn. Có 4 độ về ngọt: 1- Sada (lạt, không đường); 2- az sekerli

(ít đường, nửa muỗng cho mỗi tách); 3- orta sekerli (vừa đường; một muỗng gạt cho mỗi tách); và 4- sok sekerli (nhiều đường, muỗng rưỡi cho mỗi tách). Trong thế giới Arab, cà phê lạt, tức đen không đường rất phổ biến.

Ấm cà phê có thể hâm nóng hai hoặc ba lần rồi sau đó rót vào các cốc. Nghệ thuật pha chế cà phê tuyệt nhất là bọt thật dày. Để làm tối đa bọt, ấm phải giơ lên cao và rót chậm rãi, chia đều cho các tách. Cà phê có thể pha chế chung với đậu khấu (cardamom) và quế (cinnamon) để làm phong phú thêm hương vị. Cà phê đã rót ra tách không được sử dụng muỗng để khuấy.

Cặn bột cà phê đọng trong tách sau khi đã uống xong được úp xuống đĩa và có thể dùng làm thứ điềm triệu để bói xem vận mệnh may rủi. Phép bói này gọi là bói cặn cà phê (fassomancy), cũng được áp dụng cho bã trà, như một trong các phương pháp giao tiếp xã hội, dù không có cơ sở khoa học và luận lý nào.

(Theo báo Thanh Niên)

Clip cướp iPad 4 trong quán cà phê


Hình ảnh tên cướp liều lĩnh giật chiếc iPad 4 ngay trên tay người dùng trong quán cà phê đang khiến cư dân mạng hoảng hồn và chia sẻ để nhắc nhau cảnh giác. Video ngắn này do camera an ninh ghi lại được và mới đưa lên YouTube hôm 27/2.

Không thể xác định được chính xác địa điểm diễn ra vụ cướp trắng trợn này với quang cảnh là một quán cafe. Vài cư dân mạng cho rằng đây là một quán cafe trong Sài Gòn. Theo những comment thì người đưa clip này lên YouTube nhằm cảnh báo với mọi người cũng chính là nạn nhân trong vụ cướp đã không thể lấy lại được chiếc iPad 4 dù đã có phản ứng cực nhanh. Chính chủ nhân clip thừa nhận: "Tức cái bàn nặng quá, chứ nếu là cái ghế thì hôm nay nó chỉ có chết".

Với những diễn biến trong clip có thể thấy tên cướp đã có đồng bọn với xe đợi sẵn phía ngoài cửa quán nên dù nạn nhân là một thanh niên to khoẻ và phản ứng rất nhanh nhưng cũng không kịp lấy lại chiếc iPad của mình.

Đây tiếp tục là một bài học về việc cảnh giác với tài sản cá nhân ở những nơi công cộng nhất là đối với những vật gọn nhẹ mà lại đắt tiền như smartphone hay máy tính bảng. Những vụ cướp iPhone trắng trợn cũng từng đã được nhiều phương tiện truyền thông cảnh báo lâu nay.

Nguồn: Tien Thuy

Định danh với Espresso và Cappuccino

Trong địa lý chính trị châu Âu, Địa Trung Hải là biên giới phân cách châu Âu và châu Phi, đóng vai trò là cái nôi trưởng thành và giao lưu cho cả ba đại lục Á, Âu và Phi. Xuôi đường từ Á sang Âu, lần lượt là Yemen, Arabia, Mesopotania (nay là Iraq), Do Thái, Turki, Hy Lạp, rồi tới Ý; ở châu Phi là Ethiopia rồi Ai Cập.

Để dễ nhớ hình dạng nước Ý, người ta thường ví nước này như hình chân đi giày đá quả bóng là đảo Sicily ngay chính giữa Địa Trung Hải. Vị trí trung tâm này đã là cứ điểm của văn minh La Mã với thủ đô Roma nổi tiếng: “Đường nào cũng dẫn tới Roma”. Đường có thể đi hai chiều, nên Ý cũng là nơi xuất phát đi khắp nơi: Con đường cà phê cũng thế!

Trên con đường thông thương của cà phê, thành phố Alexandria ở Ai Cập là nơi tập trung thứ nhất sau đó là thành phố Venice của Ý rồi đi khắp châu Âu.

Thế kỷ 13, một thanh niên người Ý gốc Venice là Marco Polo đã theo cha và chú phiêu lưu sang tận Trung Quốc và phục vụ trong triều nhà Nguyên Mông Cổ cho hoàng đế Hốt Tất Liệt đến 15 năm. Cuốn du ký của ông thời đó bị cho là hoang đường nhưng cũng nuôi dưỡng giấc mơ về một Đông phương huyền bí và tráng lệ. Năm 1615, những lái buôn thành Venice là những người châu Âu đầu tiên làm quen với cà phê ở Istanbul và đem về giới thiệu ở quê hương. Thoạt đầu cà phê được bán rong cùng với nước chanh vắt. Năm 1645 quán cà phê đầu tiên được mở ở Venice và sau tràn lan khắp đất nước Ý, phục vụ cho giai cấp quyền quý giàu sang.

Cà phê cũng phải trải qua một sự tranh chấp và dị nghị lớn vì là thức uống chủ đạo của tín đồ Islam nên bị nghi là thứ tà ma, ngoại đạo. Nhưng chính Giáo hoàng Vatican - Clement 8 đã bênh vực cho cà phê sau khi nếm thử và say mê nó, đã bác bỏ luận điệu rằng đó là “phát minh cay đắng của quỷ Satan”.

Cà phê ở Ý có hai món nổi tiếng khắp thế giới đó là espresso và cappuccino.

Espresso nghĩa đen là “ép”. Phương pháp pha chế này dùng nước nóng và hơi ép qua cà phê đã rang và nghiền sẵn với áp suất lớn (lý tưởng là 9-10 atmosphere) khiến cà phê đậm đặc gấp 1-15 lần lượng cà phê so với nước so với các phương pháp thông thường. Một cốc cà phê espresso là thứ nước cốt đen và đậm đặc với nồng độ rất cao nên dung tích cũng hạn chế khoảng ít hơn 20 ml. Tách espresso ngon cần có một lớp bọt màu nâu đỏ bồng bềnh trên mặt gọi là crema (kem). Quán espresso là quán cà phê chuyên phục vụ theo kiểu pha chế này. Khách có thể gọi cà phê đứng uống ngay ở quầy, hoặc có thể ngồi vào bàn và kêu phục vụ với giá cao hơn một chút.

Cappuccino là một biến cải của caffe latte (cà phê sữa). Cappuccino gốc từ capucin là bộ quần áo màu nâu đặc trưng cho dòng tu khất sĩ Phanxicô (Franciscan) theo tên của thánh Francis xứ Assisi thế kỷ 13 - người sống hòa hợp với thiên nhiên và muốn cải cách phong tục giáo hội xa hoa thời đó bằng lý tưởng sống nghèo khó và rao giảng phúc âm thân thiện với mọi tầng lớp bình dân. Thoạt tiên, cappuccino được pha với sô cô la nóng và đặc cùng kem tươi. Sau 1820, bột sô cô la được sáng chế nên được thêm vào dưới dạng những mảnh nhỏ trên kem tươi. Ba thể loại cà phê, sô cô la nóng, và bọt kem tươi tạo ra màu áo nâu của dòng tu phanxicô với những mảnh sô cô la phủ trên kem tươi thành hình chóp giống như mũ chụp đầu của các tu sĩ này. Thánh Phanxicô rất được dân chúng yêu quý nên thức uống này càng thêm thân thiết.

Máy pha espresso hiện đại được Achille Gaggia phát minh ở Milano năm 1945 và lan ra khắp châu Âu, Mỹ. Văn nghệ sĩ thế hệ Beat (beatnik) như Allen Ginsburg và Jack Kerouac rất ưa chuộng thức uống này. Ngày nay, với sự phổ cập toàn cầu, espresso và cappuccino đã trở thành thế giới ngữ và đưa văn hóa Ý tỏa khắp toàn cầu.

Nghi lễ cà phê của người Ethiopia

Tên gốc của Ethiopia là Abyssinia và là nước độc lập cổ xưa nhất của châu Phi, đã được văn minh Ai Cập biết đến từ hai ngàn năm trước công nguyên. Nằm ở đông bắc châu Phi, đây là nơi phát tích cây cà phê arabica trong những thung lũng hoang vắng đất đỏ của núi lửa xa xưa và sương mù ở độ cao hàng ngàn thước trên mặt biển.

Ảnh minh họa: Studio OMG

Từ cổ xưa, dân địa phương đã dùng lá, ăn trái, nấu hạt cà phê làm thức ăn và thức uống bình dị.

Trong truyền thuyết dân gian, cà phê được coi là những giọt nước mắt của Thượng đế nhỏ xuống thi thể của các bà mo, thầy phù thủy. Bộ tộc Oromo ngày nay còn giữ phong tục là trồng một cây cà phê trên mộ của những thầy mo. Theo sự truyền khẩu, chính một thanh niên chăn dê trong bộ tộc Oromo tên là Kaldi đã khám phá ra loại cây kỳ diệu này.

Trong nghi lễ cà phê của Ethiopia, người nữ đóng vai trò chủ chốt trong việc tiến hành nghi thức pha chế và dọn bày. Tại gia đình khi tiếp khách, đó là bà chủ nhà hoặc một người nữ trẻ tuổi hơn thay thế. Cà phê được dọn ba lần: sáng, trưa, và chiều - mỗi lần có thể kéo dài đến 2-3 giờ. Tại làng xóm nghi thức cà phê cũng là quan trọng nhất và được mời dự là một vinh hạnh.

Văn hóa cà phê của Ethiopia bắt rễ trong tín ngưỡng thờ phụng và hòa đồng với bà mẹ Tự nhiên phồn thực. Hình tượng cây cà phê phù hợp với kích thước con người, sum sê tàn lá biếc xanh và những bông hoa nhiều cánh trắng muốt thơm ngát với những chùm trái muôn sắc từ xanh trắng đến vàng đỏ, nhất là hạt có hình như hai cánh bướm của cửa mình người nữ, gợi hình ảnh nơi tất cả chúng ta chào đời, và trở lại khi hội ngộ với tình ái thăng hoa và phồn thực tiếp nối.

Để làm nổi bật ý nghĩa đó, sự cử hành nghi thức cà phê cũng hết sức thong thả, thoải mái. Đầu tiên, căn buồng hoặc lều trại được quét gọn sạch, rải cỏ thơm và rắc hoa. Người nữ chủ lễ đốt hương trầm hoặc thắp nhang để thanh tẩy bầu không khí và xua đuổi tà ma. Nước lạnh trong sạch được đong vào ấm đất hoặc gốm đen, đáy bằng tròn (gọi là jebena) rồi đặt lên than hồng.

Hạt cà phê tươi được rửa sạch và rang trong chảo gang có cán gỗ dài. Cà phê được rang chậm với lửa thật đều và đảo luôn tay để dầu thơm tiết ra nhưng không bị cháy đen. Hương cà phê thơm khi rang cũng góp phần cho khí quyển của buổi lễ.

Cà phê đã rang được nghiền trong cối với chày giã hoặc bằng cối xay cà phê. Cối gỗ có tên là mukecha và chày bằng kim loại có tên là zenezena. Cối và chày cũng là biểu tượng của hai bộ phận sinh thực nữ và nam. Động tác giã chính là sự hòa hợp của nam nữ để cùng hoan lạc và lưu truyền đời sống.

Khi cà phê giã xong cũng là lúc nước đã đủ nóng. Người nữ phụ trách giở nắp ấm bằng rơm và trút cà phê vừa xay thơm ngát vào. Ấm đun lại tới khi cà phê được chiết xuất vừa đúng độ và sẵn sàng rót ra cho khách.

Một chiếc khay gồm những tách không quai bằng gốm hoặc thủy tinh (cini) đặt sát nhau được rót một lần cho đồng đều từ trên cao độ hơn một gang tay. Bã cà phê còn nằm trong ấm, không trút vào các tách.

Người ít tuổi nhất lúc đó mời người cao tuổi nhất thưởng thức hương vị cà phê đầu tiên. Người hành lễ mời tất cả cùng tham dự. Đó là uống cà phê (bunna tetu).

Khách có thể thêm đường nếu muốn. Sữa thường không được sử dụng. Khách lịch thiệp sẽ khen người pha chế cà phê cũng như tán thưởng nguyên liệu chọn lọc của chủ nhà.

Sau tuần thứ nhất, nghi thức được lặp lại đến lần thứ nhì và lần thứ ba nếu mọi người hoan nghênh. Ba lần uống được gọi là abol, tona và baraka, tức tuần đầu, tuần hai và sinh lực. Mỗi lần sau đều nhạt hơn lần trước. Mỗi tách đều có công dụng chuyển hóa thần khí và tuần chót là sự chúc phúc cho tất cả.

Những biến thiên của việc pha chế là người cử hành có thể thêm đậu khấu (cardamom), quế (cinnamon) và đinh hương (clove) vào khi rang cà phê để làm phong phú thêm với các gia vị.

Những hương liệu giàu có của trái đất vùng nhiệt đới, nhờ ánh sáng và hơi ấm của mặt trời - với sự kết hợp của cả bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió giúp con người hòa hợp với nhau và với đất trời để hưởng hạnh phúc trần gian.

Nguồn gốc cà phê Việt Nam

Cà phê có thể đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp mang hạt sang trồng lẻ tẻ từ các thế kỷ 17, 18 nhưng chính thức và quy mô thì phải đến khi người Pháp chiếm được Việt Nam từng phần và đặt nền bảo hộ lên toàn cõi (1884).

Ảnh: Stirling Noyes
Quý kim là thứ các nhà thám hiểm săn tìm. Nhưng đúng với cái tên “thực dân” (thực là trồng, nuôi), động cơ hàng đầu là tìm ra, thuần hóa và khai thác thứ có đời sống để có thể tăng gia theo cấp số nhân (các loại cây và con) - và những lợi ích kinh tế hầu như vô tận trong cuộc tranh đua thương mại và giành hoặc phá ưu thế độc quyền của các thế lực ngoại địch (như trà, đồ sứ của Trung Quốc; cà phê của khối Ả Rập,…).

Chỉ hai năm sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định (trong đó có Sài Gòn) và Mỹ Tho, người Pháp đã lập Thảo cầm viên ngay Sài Gòn để nghiên cứu và thử nghiệm quy mô việc khám phá về cây và con ở mảnh đất này.

Cho đến Cách mạng Pháp 1789, Pháp là nước sản xuất và tiêu thụ cà phê hàng đầu của thế giới, sản xuất chủ yếu ở thuộc địa là quần đảo Antilles ở biển Caribê như Guadeloupe và Martinique… Paris năm đó đã có trên 700 quán cà phê.

Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857, từ đảo Martinique và vùng Guyane thuộc Pháp ở châu Mỹ Latin vì có khí hậu và thổ nhưỡng nhiệt đới tương tự Việt Nam. Đầu tiên, loại Arabica được thử ở phía Bắc rồi ở miền Trung (Quảng Trị, Bố Trạch,…), sau khi thu hoạch được chế biến dưới thương hiệu Arabica du Tonkin (cà phê Arabica Bắc Kỳ) và nhập khẩu về Pháp. Sở dĩ loại Arabica được thử nghiệm trước vì có giá trị hơn, nguyên gốc ở Ethiopia, thích hợp với vùng cao nguyên và vùng núi cao từ 800 - 2.000 m, và có nhiệt độ từ 18 - 23 độ bách phân.

Trong khi đó loại Robusta (Mạnh khỏe), giống từ rừng xích đạo châu Phi, có hàm lượng gấp hai lần giống Arabica và thích hợp với nhiệt độ từ 22 - 26 độ và cần lượng nước mưa từ 1,5m - 2m/năm. Đợt thí nghiệm này không thành công, một phần vì đất đai định cư lâu không thích hợp cho việc mở rộng các đồn điền công nghiệp hóa, một phần vì chính trị không ổn định do không có quy chế thuộc địa. Thói quen ở đây lại là văn hóa trà như Trung Quốc.

Từ năm 1925, sau những cuộc khảo sát quy mô kỹ lưỡng về khí hậu và thổ nhưỡng cũng như những suy tính về xã hội, chính trị, người Pháp đem cà phê trồng thử nghiệm ở vùng Tây nguyên, đặc biệt là cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) và Đắk Lắk (Ban Mê Thuột), với đồn điền và chủ nhân là người Pháp, nhân công chủ yếu là người dân tộc. Ở Lang Biang thích hợp với giống Arabica hơn, còn ở Đắk Lắk là giống Robusta. Đến 2001, Việt Nam chính thức trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê thứ hai trên thế giới, hằng năm thu về cho ngân sách quốc gia hơn một tỉ USD.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê là thức uống mới từ thị dân lan dần đến nông thôn. Tính chất cộng đồng và thân thiện của cà phê khiến người ta tỉnh táo, có thể làm việc lao động chân tay cũng như trí óc. Quán cà phê có thể thích nghi với cà phê filter (lọc) cho từng cá nhân, hoặc cà phê đem qua ấm lọc (percolateur) hay cà phê bít tất nhúng ngâm trong nước sôi để phục vụ cho nhiều người bằng lối pha sẵn với giá bình dân. Quán cà phê trở thành nơi giao lưu xã hội, vừa là trung tâm sinh hoạt, vừa là trung tâm thông tin, là môi trường giao dịch làm ăn thương mại thích hợp suốt cả ngày.

Trong giai đoạn chiến tranh 1960 - 1975, các quán cà phê với âm nhạc lãng mạn, trữ tình, có cả màu sắc bi thương như những nhạc khúc Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên,… đã trở thành văn hóa của cả một thế hệ trẻ trong cuộc chiến. Sau 1975, cà phê trở ngược ra Bắc, trở thành nét sinh hoạt toàn quốc với khung cảnh thơ mộng, thiên nhiên - đem lại sự tươi mát cho những thành thị ngày càng sôi nổi với nhịp sống thị trường toàn cầu hóa.

Văn hóa cà phê ấm cúng, lãng mạn, tĩnh lặng nơi người ta có thể thưởng thức âm nhạc, sách báo, tranh vẽ, mỹ thuật, hoặc tâm sự trao đổi về tri thức hoặc tình cảm. Vì thế, muốn biết một người, chỉ cần xem người đó giải trí thích thú nhất ở đâu…

Văn hóa cà phê Nhật Bản

Văn hóa Nhật hết sức quý trọng cái đẹp trong mọi thể hiện của đời sống: từ cái ăn, cái mặc, cái ở, đến sinh hoạt trong tự nhiên, gia đình, xã hội, và cả tâm linh. Tất cả đều được nâng lên bình diện cao cả của một thứ đạo. Võ nghệ thì có cung đạo, kiếm đạo, hiệp khí đạo, nhu đạo, không thủ đạo, võ sĩ đạo… Văn nhã thì có hoa đạo, bồn tài (bonsai) thư đạo, cầm đạo, kỳ đạo, thi đạo, họa đạo, y đạo, trà đạo, thiền đạo, thần đạo… Trung gian còn có vũ đạo (múa), cổ đạo (đánh trống), cờ vây (go),…


Trong tất cả những thứ đó, có lẽ đặc trưng và nổi tiếng nhất là trà đạo (cha no yu) như một nghi thức nghệ thuật, văn hóa trong cả giao lưu và tĩnh tâm để tới trạng thái an nhiên bình dị nhất. Nghi thức uống trà được các thiền sư du nhập từ Trung Quốc vào đời Đường và lên tới đỉnh cao vào thế kỷ 19, trước khi Nhật mở cửa đón nhận văn minh phương Tây từ sự thúc ép của Đô đốc Hoa Kỳ là Perry năm 1853.

Tuy nhiên, nước Nhật với nền tảng là văn minh hải đảo biệt lập phía cực đông của châu Á nên chứa đầy những cực đoan và nghịch lý. Thiên tài của nước này không chỉ về sáng tạo mà là hấp thu, du nhập, biến cải và làm những thứ kia thành tận thiện, tận mỹ, tận tinh xảo. Ngày xưa đối với các nền văn minh Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ thì từ giữa thế kỉ 19 tới nay là văn minh phương Tây.

Tất cả những điều này chúng ta có thể nhìn thấy qua bức tranh thu nhỏ của văn hóa cà phê ở Nhật. Nhật biết đến cà phê đầu tiên là vào thế kỉ 19 khi những tàu thương lái của Hà Lan chở từ Java tới. Tuy nhiên quá thấm đẫm với văn hóa uống trà xanh lục nghiền vụn thành bột trong nghi thức đạm bạc của Thiền tông, Nhật vẫn hững hờ với thứ thức uống đen lạ lẫm này.

Cà phê thực sự chỉ bộc phát từ thập niên 1960. Sau khi thua trận Thế chiến 2 vào năm 1945, Nhật áp dụng chính sách khắc khổ để toàn dân vực dậy sau tro tàn tan hoang và sự chiếm đóng của Hoa Kỳ dưới quyền tướng Mac Arthur. Việc nhập khẩu cà phê bột ngừng lại cho mãi đến năm 1949 mới được bãi bỏ. Từ đó cà phê chỉ lan ra theo cách nhỏ giọt. Từ khoảng 1960 với trào lưu Hiện sinh và phong cách Paris của những quán cà phê văn nghệ sĩ trở thành thời thượng trong lớp thanh niên thị dân, nhất là sinh viên, học sinh.

Đến 1965, Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới phát động kan kofi (canned coffee) gọi là Miracoffee tức là cà phê đóng vào lon của Công ty UCC Ueshima Coffe chỉ bốn năm sau với chiến dịch phát động tiếp thị quần chúng và thành công rực rỡ trong toàn quốc. Đến năm 1973 các máy bán tự động thức uống cả nóng và lạnh được đưa vào thị trường tiếp sau việc phát hành đồng tiền kim loại mệnh giá 100 yen thì việc quảng bá thực sự đạt mức đều khắp. Trước đó, cà phê hòa tan cũng là một phát minh của người Nhật.

Siphon là cách pha chế cà phê dựa trên nguyên lý thẩm thấu ngược, khởi nguồn từ Đức, đã du nhập đầu tiên vào Kyoto từ những năm 1950 và được người Nhật cải biến thành một nghệ thuật tuyệt vời. Ngày nay, quán cà phê Hanafusa tại Kyoto vẫn giữ nguyên phong cách cũng như dụng cụ pha chế siphon từ thời đó. Thời gian gần đây, kiểu pha chế này lại trở nên phổ biến như một cách làm thương hiệu và hình ảnh hiệu quả thể hiện phong cách pha chế điển hình của Nhật.

Trong số 3 quốc gia tiêu thụ cà phê nhiều nhất thế giới (Mỹ, Đức, Nhật) thì khẩu vị của người Nhật “nặng nhất”, thường tới 13 gr/tách espresso thông thường. Ở mỗi một vùng, khẩu vị cũng khác nhau, người Osaka uống nặng nhất, rồi tới Kyoto, Tokyo. Người Tokyo thích uống cà phê kiểu Mỹ, nhẹ hơn, chỉ khoảng 9-10 gr/tách. Cà phê espresso và cà phê tươi từ đầu thế kỷ 21 bắt đầu trở lại khi Nhật Bản bừng tỉnh với suy thoái kinh tế tài chính và thấy cần thay đổi cả văn hóa, phong cách sống vì tự do, hạnh phúc và sáng tạo.

Văn hóa “cà phê cóc” xứ Huế

Cà phê cóc trên hè phố ở Huế là một trong những nét đặc trưng văn hóa mới của đất và người dân xứ Huế: cởi mở, thân thiện và khoáng đạt từ con người, ly cà phê đến chỗ ngồi uống cà phê.

Cafe cóc xứ Huế

Không biết cà phê cóc ở Huế có từ khi nào nhưng giờ nó đã quá quen thuộc với với Huế và trở thành một nét văn hóa của người dân nơi đây. Các tên đường như Trương Định, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Trường Tộ, bờ hồ bên đường Tôn Đức Thắng… (TP Huế) là những “phố cà phê” chính hiệu “cóc”.

Lý giải về nguồn gốc cà phê cóc ở Huế, anh Nguyễn Ngọc Minh, một người có thâm niên hơn 20 năm bán cà phê cóc ở Huế cho biết: “Cách đây khoảng hơn 20 năm về trước ở Huế chỉ xuất hiện một vài quán cà phê sân vườn nho nhỏ, sau đó do lượng người dân thưởng thức cà phê ngày càng nhiều nên các quán bắt đầu kinh doanh ra cả lề đường khu vực gần nhà rồi kéo dài dọc theo vỉa hè và cuối cùng hình thành cà phê cóc từ lúc nào cũng không hay”. Cũng có cách lý giải khác rằng “cóc” là bắt nguồn tư tư thế ngồi uống trên chiếc ghế nhựa nhỏ, người uống phải ngồi trung xuống, chồm hổm hệt như chú cóc.

Buổi sáng, buổi chiều, dạo quanh một vài con đường trong TP Huế là người ta có thể bắt gặp ngay hình ảnh những quán cà phê cóc đông nghịt người. Cà phê cóc cũng được phân theo thời gian của những lớp người khác nhau như: Sáng sớm là những người đạp xích lô, xe thồ, thợ nề; 6 -7 giờ là thời gian của những người làm việc theo giờ hành chính; từ 7 giờ đến gần trưa là thời gian của những người làm việc không phụ thuộc vào thời gian như sinh viên, khách du lịch…

"Mình rất thích uống cà phê cóc vì nó thoáng mát, rẻ, phù hợp với túi tiền. Ngồi cà phê cóc không gian thoáng đãng, tự do thoải mái nói chuyện mà không bị người khác để ý và vừa được ngắm cảnh đường phố với những dòng người ồn ào đông đúc lúc đi làm…". Đó là những lời nhận xét rất thường gặp của người dân xứ Huế khi ngồi thưởng thức cà phê cóc.

Cà phê cóc ở Huế rất ngon mà lại rẻ, một ly cà phê cóc chỉ 4-5 nghìn nên sinh viên bọn mình cứ có việc gì tập trung đông người là lại hẹn nhau ra quán cà phê cóc vừ nhâm nhi cà phê, vừa nói chuyện thoải mái mà không sợ bị chủ nhà la như ở phòng trọ”, bạn Trần Thị Hạnh, một bạn sinh viên cho biết.

Nhiều người sẽ thấy các quán cà phê cóc ở Huế có nét tương đồng với các quán nước chè đầu phố của Hà Nội hay cà phê cóc Sài Gòn bởi vì cũng được bày bán tại những vỉa hè. Gọi là quán cho thuận miệng, chứ thật ra cà phê cóc chỉ có một chiếc ghế nhỏ, vài chai cà phê đã pha sẵn, đường, hộp sữa đặc, ít đá và vài cái ly nhựa hoặc thủy tinh được xếp trên các vỉa hè hay góc phố; có những quán ở đường Tôn Đức thắng thậm chí không có cả ghế, cứ trải một tờ giấy báo (người dân thường gọi vui là “ghế xoay”) là đã có một chỗ ngồi "ngon lành".

Mở cửa từ 4,5 giờ sáng đến tận tối mịt, mỗi quán có những khách quen riêng, có giờ cao điểm riêng, nhưng tất cả đều nhằm phục vụ mục đích uống cà phê nhanh, gọn, lẹ của người dân xứ Huế. Câu chuyện quanh bàn cà phê sáng có thể bao gồm từ chuyện nghề nghiệp, chuyện con cái, gia đình đến các vấn đề thời sự, giáo dục, thể thao hay cả chính trị thế giới. Một hình ảnh thường gặp ở các quán cà phê cóc là mỗi người một tay cầm ly cà phê, tay kia cầm tờ báo.

Uống cà phê cóc cũng là một cách để bạn khám phá khẩu vị cà phê của người Huế. Cà phê cóc hè phố là một trong những đặc trưng của đất và người Huế, cởi mở và khoáng đạt từ con người, ly cà phê đến chỗ ngồi cà phê. Nếu các bạn có ghé thăm cố đô, một buổi sáng nào đó hãy dành thời gian đi bộ ra quán cà phê góc phố ngồi và tự thưởng thức một chút nếp sống Huế nhé!

Các bà chủ quán cà phê cóc luôn trong tư thế chạy thật nhanh để đưa ghế ngồi cho khách

Những vỉa hè rộng rãi, thoáng đáng là nơi lý tưởng để mở một quán cà phê cóc


Vừa ngồi uống cà phê vừa thư giãn và ngắm dòng sông Hương nơi gần cầu Trường Tiền

Thói quen uống cà phê vào mỗi buổi sáng đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu của người dân xứ Huế từ người già cho đến trẻ nhỏ

Ngồi uống cà phê không thể thiếu một tờ báo để đọc mỗi lúc rảnh rỗi

Một người con gái Huế khi biết được chụp ảnh đã vui vẻ tạo dáng trước ống kính của PV


Xem thêm...

Cà phê “vỉa hè” Hà Nội của người Pháp

Cà phê là một trong những món ẩm thực được du nhập theo sự có mặt của người Pháp vào Việt Nam. Và cũng giống như phở, cà phê bắt đầu len lỏi và đi sâu bám rễ vào cuộc sống người dân Hà thành từ những gánh hàng rong. Thủa ban đầu (vào cuối thế kỷ XIX) cà phê là thức uống chỉ dành cho người Pháp và châu Âu ở Việt Nam. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, cà phê đã được "xã hội hóa" và trở thành đồ uống dành cho giới tư sản và tiểu tư sản (nhất là giới trí thức cấp tiến) ở thành thị. Các tầng lớp này có thể tìm uống cà phê từ các gánh cà phê dạo quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.

Khi đó cà phê được bán cùng với nước chanh, nước vối đặt trên những bộ gánh cải biên từ gánh bán phở, mì vằn thắn. Cà phê thường được pha sẵn trong chai, hâm nóng và pha thêm đường rồi rót ra chén cho thực khách tùy theo sở thích và thời tiết.

Hàng cà phê rong Hà Nội: Trong bức ảnh này có thể thấy rõ Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc cùng gánh cà phê đặt ngay trên Bờ Hồ, nơi trái tim của Hà Nội. Khách có thể vừa uống cà phê bên vỉa hè, trong vườn hoa (mới được xây dựng) vừa ngắm cảnh Hồ Gươm thơ mộng và đôi khi cũng sẽ gặp những tà áo dài thanh lịch lướt qua...

Cà phê Hà Nội năm 1902: Đây là 1 trong những tiệm cà phê lớn đầu tiên ở HN đã được sửa sang nâng cấp để phục vụ cho nhiều du khách, thương gia từ các nước trên thế giới đến Hà Nội dự hội chợ thương mại quốc tế tại khu Đấu xảo (nay là khu Cung văn hóa Hữu nghị). Các tiệm cà phê này tập trung nhiều ở phố Hàng Khảm (nay là phố Tràng Thi) với các thương hiệu nổi tiếng như Café du Commerce, Café de Paris, Café Albin, Café de la Place, Café Block và Café de Marseille.

Kiốt giải khát bên bờ Hồ Gươm: Trong thời kỳ tạm chiếm 1947-1954, Hà Nội không còn vẻ kiêu kỳ và quý tộc nữa nên thú uống cà phê cũng đã trở nên “dân dã” hơn với người dân Hà thành.

Tiệm cà phê bên Hồ Gươm: Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, người Pháp đã biến Hồ Gươm thành một lẵng hoa quý tộc giữa lòng thành phố mà những tiệm cà phê nhỏ xen giữa các vườn hoa mới trồng như những con búp bê nhỏ trong lẵng hoa của các tiểu thư đài các châu Âu.

Tiệm cà phê Phố Tràng Tiền (Paul Bert): Một trong những tiệm cà phê cùng với khách sạn tồn tại lâu nhất ở Hà Nội với một phong cách uống bên vỉa hè “rất châu Âu” mà ngày nay lại bị gọi là cà phê “bình dân”.

Tụ tập và uống cà phê trên sảnh Nhà hát Bờ Hồ: Tiệm cà phê ngay ở sảnh của Nhà hát nhạc kịch châu Âu đầu tiên ở Hà Nội - Hội hiếu nhạc Hà Nội (Société Philharmonique d’Hanoi nay là vị trí Nhà hát múa rối Thăng Long) khiến người ta lầm tưởng như đang đứng ở giữa Paris cuối thế kỷ XIX.

Ảnh do KTS Đoàn Bắc, người sưu tập ảnh cổ Việt Nam, sưu tầm
Nguồn: Thể Thao & Văn Hóa

Văn hóa cà phê ở thủ đô Viên

Nhâm nhi tách cà phê, trò chuyện với bạn bè, đọc báo hay đơn giản chỉ ngắm nhìn khung cảnh là điều vô cùng giản dị và quen thuộc trên các đường phố ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở thủ đô Viên của Áo, uống cà phê lại được nâng lên tầm nghệ thuật, một truyền thống văn hóa vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Uống cà phê trở thành nét văn hóa đặc biệt của người dân thủ đô Viên

Có dịp đến thủ đô Viên, ít người bỏ lỡ cơ hội làm một tách cà phê tại các quán dù là trên vỉa hè hay trong nhà. Đây là một trong những truyền thống văn hóa độc đáo hiếm thấy trên thế giới. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều quán cà phê ở Viên là nơi lui tới của giới văn nghệ sĩ, khoa học… Nhiều nhà văn đã sáng tác ngay trong quán cà phê, tạo nên dòng văn học mà ngày nay người ta gọi là "dòng văn học cà phê" và những nhà văn đó được gọi là "nhà văn quán cà phê". Ngày nay, các quán cà phê ở Viên được ví như phòng khách công cộng, nơi rất nhiều người đến để uống cà phê, ăn bánh và đọc báo. Chỉ cần gọi một tách cà phê, bạn có thể ngồi hàng giờ làm những thứ mình thích mà không ai làm phiền. Người dân ở đây đến quán không chỉ thưởng thức cà phê mà còn để tận hưởng một phong cách sống thi vị.

Với nhiều người ở thủ đô Viên, những quán cà phê là một phần cuộc sống của họ. Nhiều người đã coi quán cà phê mà họ thường lui tới là ngôi nhà thứ hai, nơi họ có thể gặp bạn bè, người quen nhưng cũng là nơi có thể một mình thưởng thức cái thú vui không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày. Đó là thưởng thức một tách cà phê ở một nơi mà họ ưa thích. Điểm khác biệt lớn trong các quán cà phê ở Viên là nhân viên phục vụ đều phải qua một khóa đào tạo bài bản và không có chuyện sinh viên đi làm thêm tại đây. Cà phê được mang đến cho khách bao giờ cũng có thêm một cốc nước lọc, trên có một cái thìa con đặt ngang úp xuống. Tất nhiên, các nhật báo của Áo và thế giới là thứ không thể thiếu để khách vừa nhâm nhi vừa có thể xem tin tức. Để khỏi quên những cuộc hẹn riêng tư hay công việc quan trọng, quán cà phê nào cũng treo một chiếc đồng hồ to tướng ở nơi dễ nhìn.

Hương vị cà phê cũng như không khí ở những quán cà phê làm cho khách phương xa đến đây khó có thể quên được. Loại cà phê "đặc sản" ở Viên là "Einspanner", một tách cà phê lớn, có kem sữa và rắc đường mịn như bột ở trên. Người phục vụ không hề chào mời dùng thêm bánh ngọt nhưng anh ta sẽ có mặt khi bạn cần thêm một cốc nước hoặc khi bạn chỉ vừa thốt lên "Xin lỗi!" lịch sự.

Không khí ấm cúng, không ồn ào trong khi mọi người vẫn nói chuyện với nhau là nét khá đặc trưng tại các quán cà phê ở Viên. Chúng thường được "giấu" trong những kiến trúc cổ với phòng ốc ấm cúng với những chùm đèn pha lê, có chùm tuổi đời đã hàng trăm năm. Một tách cà phê giá khoảng 8 nghìn VND với các dịch vụ rất thân thiện; giờ đây, người dân thủ đô Viên có thể vừa uống cà phê vừa tự hào rằng mình đang bảo vệ truyền thống văn hóa của đất nước, bởi UNESCO đã công nhận "văn hóa cà phê" đặc biệt này là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Đình Hiệp (theo Hà Nội Mới)

Thông minh, xinh đẹp hơn nhờ cà phê

Ngoài tác dụng thần kỳ là làm tinh thần sảng khoái, cà phê hiện đã được các nhà khoa học chứng minh là tốt cho sức khỏe – điều mà nhiều người trong số chúng ta vẫn bán tín bán nghi từ trước đến nay do những “lời đàm tiếu” xung quanh loại thức uống phổ biến nhất thế giới này.


Mỗi tách cà phê đen thuần túy (không sữa, không kem, không đường) chỉ cung cấp 2 calo. Vì vậy, chúng cung cấp cho bạn năng lượng vừa đủ để lấy lại tinh thần mà không phải vất vả tập thể dục để đốt cháy lượng calo dư thừa như khi uống các loại nước tăng lực khác. Thêm vào đó, cà phê còn rất giàu chất chống oxy hóa. Chúng cũng giúp tâm trạng phấn chấn hơn và tăng khả năng tập trung khi làm việc.

Ngoài các “công trạng” kể trên, cà phê còn có nhiều lợi ích khác, theo tạp chí khoa học Discovery:

Cà phê sẽ khiến bạn thông minh hơn: Cà phê kích thích và tăng khả năng trí tuệ ở phụ nữ (rất tiếc, đàn ông không có được “may mắn” này khi uống cà phê). Nó giúp tăng cường hoạt động của não bộ, tăng năng suất làm việc, tác động tích cực đến khả năng đưa ra quyết định, củng cố trí nhớ.

Cà phê còn có thể giúp bạn có thân hình thon gọn hơn: Theo đó, trước khi bắt đầu tập thể dục, hãy uống một tách cà phê. Việc này sẽ giúp cơ thể duy trì hoạt động tập luyện trong một thời gian dài, hỗ trợ hệ tim mạch hoạt động hiệu quả, đốt được nhiều calo hơn, và vì thế sẽ giảm được nhiều cân hơn. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện, cà phê còn kéo dài tác dụng đến sau khi bài tập thể dục kết thúc, cụ thể là nó làm giảm sự đau cơ do hoạt động thể thao gây ra.

Các nghiên cứu và thống kê cho thấy những người thường xuyên uống cà phê có ít nguy cơ tử vong vì các bệnh tim mạch. Điều này là nhờ cà phê có khả năng bảo vệ hệ tim mạch. Tuy nhiên, để đạt được tối đa lợi ích này từ cà phê (giảm 36% nguy cơ mắc bệnh), bạn cần uống hơn 6 tách mỗi ngày (pha loãng), còn nếu chỉ uống từ 2 - 4 tách mỗi ngày thì nguy cơ chỉ giảm 20%.

Dẫu vậy, hãy cẩn thận nếu bạn mắc chứng phình mạch. Theo một nghiên cứu trên tạp chí Y khoa Stroke, cà phê và hoạt động tình dục mạnh, cũng như khi tức giận hoặc bị giật mình, đều có thể dẫn đến tình trạng phình động mạch não ở những người đã có tiền sử mắc bệnh. Vì vậy, nếu bạn mắc chứng bệnh này, hãy tránh xa cà phê và các thức uống có chứa cafein.

Cao Nguyên [VietNamNet]

25 quảng cáo cà phê sáng tạo

Văn hóa Cà Phê Việt

Người ta nói: Thêm đường hết đắng.
Nhưng ngọt ngào đâu có phải Cà Phê?
Giọt đắng này, giọt của si mê.
Như giọt đời, giọt mưa, giọt nắng…

Thật lạ, con người thường đam mê những thứ đắng cay, không mấy ai nghiện ngập ngọt bùi. Có phải cuộc đời nhiều mặn nồng, nhiều thăng trầm cay đắng, cho nên con người tìm đến những thứ đắng cay để dung hòa cảm xúc? Còn hơn thế, Cà Phê có đủ vị đắng để giúp ta suy tưởng, có đủ độ nồng để tạo cảm giác bồng bềnh, có đủ độ chua để nghĩ về thất bại, có đủ độ mặn để nhớ về đất mẹ, và có đủ độ ngọt ngào để ta cảm thấy được yêu thương…


Cảm ơn các vị linh mục Tây phương đã đem cây Cà Phê từ cao nguyên Ethiopia xa xôi mãi tận Phi Châu vào đất Việt. Nghe nói ban đầu loại cây quý giá này chỉ được trồng tại vườn của các nhà thờ Phía bắc Việt Nam từ khoảng cuối những năm 1880. Sau này, tức là đến khoảng những năm 1920 cây Cà Phê mới được trồng đại trà ở Đak Lak và Gia Lai - Kon Tum. Giống như tại hàng trăm quốc gia uống Cà Phê trên thế giới, văn hóa Cà Phê đã hình thành ở Việt Nam như một điều tất yếu từ món quà tuyệt vời do tự nhiên ban tặng.

Hoàn cảnh sống đã tạo nên văn hóa Cà Phê Việt. “Cà Phê nhanh” dành cho những người bận rộn, được đựng trong các ly cốc sử dụng 1 lần, thường đi kèm với “nhạc đệm” là bánh mỳ Pa-tê, bánh mỳ ốp la, họ uống nó như một loại Food cung cấp dinh dưỡng và khoáng chất cho cơ thể thêm khỏe mạnh và năng động. Loại này thường là Cà Phê đá, hoặc Cà Phê sữa đá.


“Cà Phê đường phố”, thường là Cà Phê đen, loại Cà Phê bình dân nhất và cũng có đông “đệ tử” nhất, chỉ đông vào buổi sáng, trước giờ làm. Cà Phê loại này thường được pha phin trong những chiếc ly thủy tinh bình dị, xinh xinh nho nhỏ. Bên cạnh không bao giờ thiếu một ấm trà nóng sẵn sàng…

“Cà Phê tự tình” dành cho các đôi nam nữ chuyện trò tâm sự. Ly Cà Phê ấy, nếu là Cà Phê đen thì phải pha vào tách kiểu ưa nhìn một chút. Người pha phải dùng một loại chong chóng quậy mạnh để tạo bọt, trang trí chút kem, hay bọt của Cà Phê Master hình chiếc lá hoặc trái tim. “Cà Phê tự tình” thường bắt đầu từ khoảng 8 giờ tối đến tận đêm khuya.

“Cà Phê tự sự” là uống một mình, suy tưởng, hoài niệm. Người uống biệt riêng những phút giây tự đối diện với cuộc sống nội tâm của mình…

Đa dạng là văn hóa Việt. Nhưng ngày nay nó đã bị mai một, biến dạng vì mất đi cái gốc rễ cội nguồn. Nhưng rất may là “văn hóa Cà Phê Việt” vẫn là điều đáng để người đời trân trọng. Dường như có một sức mạnh thần bí nào đó đã làm cho bất kỳ ai khi đang ngồi trước ly Cà Phê đều trở nên nhã nhặn, hiền lành, dễ mến. Người ta thường quên mất tuổi tác, địa vị, cũng như giai cấp của mình khi trước mặt là một ly Cà Phê bốc khói đang tỏa mùi hương quyến rũ. Đó thực sự là triết lý, và là sức hút hữu hình của Cà Phê.

Xem thêm...

Cà phê Lô cốt

Bạn sẽ ngồi cạnh lỗ châu mai đen ngòm, nhấm nháp ly cà phê đắng và ngắm cảnh hoàng hôn đỏ rực buông xuống trên mặt nước hồ Tây.

Đường Tô Ngọc Vân và đường bao ven hồ Tây giao cắt nhau tại một điểm, đấy chính là nơi có quán cà phê độc đáo bậc nhất Hà thành: cà phê lô cốt.

Lô cốt này được gọi là lô cốt “mẹ”, chếch về bên trái còn có một chiếc lô cốt “con”, nối với nhau bằng giao thông hào. Cả hai lô cốt nằm trong hệ thống lô cốt dày đặc của vùng đồng bằng sông Hồng nói chung (Hà Nội nói riêng), mà thực dân Pháp dựng lên nhằm đối phó với quân dân ta. Từ lô cốt “mẹ”, có thể quan sát, khống chế cả một vùng hồ phía bắc.

Lô cốt “mẹ” có diện tích khoảng trên 100m2, xây dựng rất chắc chắn bằng đá trắng và bê tông, độ dày từ 60- 80cm, tùy chỗ. Cửa vào có hai lớp, khá nhỏ, chỉ đủ một người lách qua; thậm chí ở lớp cửa thứ hai cần phải khom người mới chui qua được. Bên trong lô cốt có những bức tường chịu lực lớn, tạo thành một hành lang hẹp. Xung quanh có lỗ châu mai để quan sát, bắn ra 4 phía. Chính giữa lô cốt “mẹ” có một cầu thang sắt dẫn lên tháp chiến đấu hình trụ trên tầng 2. Tháp này cao chừng 2m, cũng có rất nhiều lỗ châu mai trổ ra.

Giờ thì lô cốt “mẹ” đã trở thành một quán cà phê cực kỳ độc đáo, mời các bạn cùng “vào quán” qua chùm ảnh phóng sự dưới đây được thực hiện bởi báo An ninh Thủ đô:

Toàn cảnh quán cà phê lô cốt nhìn từ đường bao ven hồ Tây

Mặt sau của quán cà phê lô cốt, nhiều người thích gọi là French villa (biệt thự Pháp)

Cận cảnh một chiếc lỗ châu mai

Hai lớp cửa dẫn vào trong lô cốt...

...rất nhỏ và thấp

Xem thêm...
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...